|
TỔNG
QUAN VỀ KHO TƯ LIỆU KTTV
Giới
thiệu tổng quan
Mạng
lưới trạm KTTV
Các
chủng loại tài liệu có trong kho Tư liệu KTTV
bao gồm số liệu đo đạc và lưu
trữ dưới thời Pháp thuộc có từ đầu
thế kỷ 1900 cho đến nay của các bộ môn KTTV.
1. Tài liệu Khí tượng bề mặt
· Thời kỳ năm 1880-1930: 52 trạm
· Thời kỳ năm 1930-1955: 211 trạm (khối
tài liệu trên giấy thời kỹ này có tần
xuất khai thác thấp, chất lượng tài liệu
kém, rách, lão hoá)
· Thời kỳ năm 1955 cho đến nay: 250
trạm. Khối lượng tài liệu này quan trắc,
chỉnh lý theo quy phạm thống nhất, tần xuất
sử dụng cao, chất lượng tài liệu vì
thế bị lão hoá nhanh chóng. Với các tài liệu trên
25 năm phải có phục chế để khôi phục
lại chất lượng tài liệu.
Các
yếu tố chủ yếu: nhiệt độ, độ
ẩm, áp suất, mưa, nắng và gió
Chủng
loại tài liệu:
§ Tài liệu gốc (các loại giản đồ,
các loại sổ gốc) và ;
§ Tài liệu chỉnh biên (các loại BKT)

2. Tài liệu Bức xạ
· Khối lượng
của chủng loại tài liệu này ít, chủ yếu
từ năm 1955 đến nay với số lượng
giao động trong khoảng 20-22 trạm
· Sổ gốc
SKT 12 của a, b, c
· Sổ chỉnh
lý BKT12 của a, b, c
· Tần suất
sử dụng chủ yếu là SKT12a và BKT12a. Mức độ
lão hoá cao đối với tài liệu trên 25 năm và
đòi hỏi chi phí phục chế tài liệu.
3. Tài liệu Khí tượng cao không
· Khoảng trên dưới
20 trạm chủ yếu từ năm 1955 lại đây.
Đối tượng sử dụng chủ yếu
của loại tài liệu này là phòng không không quân và công
tác nghiên cứu
· Khối lượng
tài liệu bao gồm các chủng loại: vô tuyến thám
không, tài liệu rađa và tài liệu ôzôn
4. Tài liệu Khí tượng Nông nghiệp
· Tài liệu có
phần lớn từ năm 1955 cho đến nay với
khoảng 27 trạm.
· Chủng
loại chia làm 2 loại: Sổ gốc (SKN1, SKN2, SKN3) và
Chỉnh lý chỉnh biên (BKN1, BKN2, BKN3)
5. Tài liệu Hải văn
·
Thời gian có tài
liệu từ 1955 cho đến nay với khoảng 26
trạm. Có 4 trạm có tài liệu từ năm 1902 đến
nay (thí dụ Hòn Dấu).
· Tài liệu
Hải văn phân làm 2 loại: Tài liệu gốc (giản
đồ triều ký, sổ gốc SHV, SHV3, SHV4) và Tài
liệu chỉnh lý chỉnh biên (BHV, BHV2)
· Tần suất
khai thác tài liệu hải văn rất cao.
6. Tài liệu Thuỷ văn
· Tài liệu chia
làm 2 thời kỳ quan trắc: (i) Thời kỳ 1902-1954 có
224 trạm trong đó có 180 trạm đo mực nước
và 44 trạm đo lưu lượng; (ii) Thời
kỳ 1955 cho đến nay có 236 trạm, trong đó có 128
trạm vùng ngọt và 108 trạm vùng triều, và 73
trạm đo lưu lượng nước.
· Thời kỳ
1955 cho đến nay được quan trắc và
chỉnh lý theo đúng quy phạm và có mật độ
khai thác tương đối cao và đối tượng
khai thác tài liệu đa dạng. Chất lượng tài
liệu vì thế bị xuống cấp, cần phải có
biện pháp phục chế để phục hồi tài
liệu.
các loại tài liệu : mực nước vùng ngọt và
vùng triều, lưu lượng nước ổn định,
mưa, nhiệt độ nước, nhiệt độ
không khí, phù sa, v.v.
· Các biện pháp
phục chế đã đươc tiến hành trong các
năm gần đây, tập chung vào 2 loại: tài liệu
khí tượng bề mặt và tài liệu thuỷ văn.
Do kinh phí và nhân lực có hạn nên khối lượng
phục chế còn ít và chưa khắc phục được
tình trạng xuống cấp của tài liệu.

7. Các chủng loại tài liệu khác
· Ngoài 6 loại tài
liệu cơ bản trên trong kho còn có 17 loại tài
liệu khác nhau. Trong đó có tài liệu các điểm
đo mưa với 1800 trạm bình quân 10-15 năm tài
liệu/trạm.
· Tài liệu
chỉnh biên thuỷ văn phòng không từ 1964-1973
· Tài liệu tích
luỹ niên, nguyệt san; Tài liệu điều tra lũ
kiệt, hồ sơ trạm đo, niên giám thuỷ văn,
tài liệu phục chế, các loại bản đồ và
các loại tài liệu điều tra cơ bản khác,
v.v.
8. Thông tin về kho lưu trữ
· Tổng số
kho lưu trữ KTTV bao gồm 29 phòng, diện tích
mỗi phòng 27 m2 và tổng diện tích kho là 783m2. Diện
tích sử dụng trên chưa đáp ứng được
nhu cầu lưu trữ tài liệu.
· Tài liệu
được lưu trên các giá tài liệu 2-3m
· Do điều
kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt cho nên
chất lượng vật lý tài liệu bị xuống
cấp nghiêm trọng. Điều kiện bảo quản
vẫn còn quá sơ sài và lạc hậu.
· Đã có đầu
tư để phục chế, song do khối lượng
tài liệu quá lớn nên chưa khắc phục được
sự xuống cấp của tài liệu.
· Ngoài ra, một
khối lượng lớn tài liệu sẽ được
tập trung về kho TTTL bao gồm: Tài liệu về
Thuỷ văn biển, Môi trường.
|