Trang chủ | Thư điện tử | Diễn đàn | English(TranslateByGoogle)
Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn trực tuyến Tư vấn trực tuyến
Liên kết website
Thống kê truy cập
  Trực tuyến: 41
  Tổng số truy cập: 4283273
  Tổng số hits: 1935151
Tổng quan về kho tư liệu KTTV

     Kho Tư liệu khí tượng thuỷ văn (KTTV) lưu trữ quản lý và bảo quản tư liệu, số liệu chuyên ngành  KTTV được thu thập từ các trạm đo, điểm đo đã và đang hoạt động thuộc mạng lưới trạm KTTV trên toàn quốc. Là cơ sở dữ liệu của ngành KTTV và là tài sản quý giá của đất nước. Có đủ năng lực thông tin chuyên ngành đáp ứng nhu cầu sử dụng số liệu KTTV cho công tác nghiên cứu khoa học, phục các công trình thuỷ điện, xây dựng sân bay, cầu cảng, cầu  đường và các công trình phúc lợi khác góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước.

      A.Tình hình tài liệu

      Tài liệu được bảo quản trong cặp giả da (trọng lượng 5-6 kg/1cặp) xấp xỉ 15 000 cặp tương đương với 3 000 m giá, gần 600 m tài liệu đóng bằng bìa các tông cứng chưa đưa vào cặp.

      Các chủng loại tài liệu hiện có trong kho bao gồm số liệu lưu giữ cuối thế kỷ  XVIII cho đến nay và liên tục bổ sung mới hàng năm, 

      Chủng loại tài liệu từ năm 1956 đến nay được lưu trữ trong kho luôn tồn tại hai bản (bản chính và bản thứ cấp): Bản chính bao gồm các loại sổ gốc, giản đồ các loại và bản thứ cấp bao gồm: Báo cáo (BKT các loại), tài liệu chỉnh biên (CB các loại) của các bộ môn chuyên ngành KTTV. Số liệu được chỉnh lý chỉnh biên theo đúng quy trình Quy phạm, sai số nằm trong phạm vi cho phép  của Quy phạm, sử dụng rất tốt.

Kho1.jpg

      Các chủng loại tài liệu bao gồm các loại tài liệu sau: 

      1-Tài liệu khí tượng bề  mặt

      Từ  năm 1880-1930 có 52 trạm, năm 1930-1955 có 211 trạm (tài liệu thời kỳ này mang tính chất lịch sử chứng minh quá trình phát triển của ngành KTTV và chủ quyền lãnh thổ của nước nhà).

      Từ năm 1956 đến nay có 250 trạm, khối lượng tài liệu này được quan trắc theo quy phạm thống nhất, thời gian đo liên tục, vì vậy tần suất sử dụng trong thời kỳ này rất lớn. Các yếu tố khí tượng thường xuyên được khai thác như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, mưa, nắng, gió, bốc hơi và các hiện tượng thời tiết .v.v...

Kho2.jpg

      2-Tài liệu bức xạ

      Chủng loại tài liệu này có từ năm 1955 đến nay có khoảng 20-22 trạm, khối lượng ít, tần suất sử dụng không cao, yếu tố được khai thác chủ yếu là tổng xạ, cường độ bức xạ, tán xạ v. v...

      3-Tài liệu khí tượng Cao không

      Khối lượng tài liệu bao gồm các loại vô tuyến thám không, ra đa thời tiết, tổng lượng ozôn, bức xạ cực tím. Có số trạm không nhiều chủ yếu là các trạm đặc trưng cho vùng, miền  khí hậu (trên dưới 20trạm)

      Thời gian có số liệu từ năm 1955 đến nay, đối tượng sử dụng chủ yếu là phòng không không quân và phục vụ nghiên cứu các hiện tượng khí tượng ở trên cao.

aLT5.jpg

      4-Tài liệu khí tượng Nông nghiệp

      Khối lượng tài liệu có từ năm 1955 đến nay có khoảng 27 trạm , đối tượng sử dụng tài liệu này chủ yếu là các viện nghiên cứu cây trồng và sinh viên trường đại học nông nghiệp.

TTTL3.jpg

      5-Tài liệu Hải văn

        Khối lượng tài liệu có từ năm 1955 đến nay có khoảng 26 trạm trong đó có trạm có thời gian hoạt động tương đối dài như trạm Hòn Dấu (từ năm 1902 đến nay).

      Tần suất khai thác số liệu của loại tài liệu này rất lớn, các yếu tố đo đạc đều được khai thác đều (Sóng hướng và độ cao sóng, mực nước, nhiệt độ nước biển, độ mặn nước biển, trạng thái mặt biển v.v...).

      6-Tài liệu kiểm soát môi trường

      Khối lượng tài liệu trước năm 1997 có thời gian gián đoạn, từ năm 1997 tới nay mạng lưới trạm được khôi phục (có khoảng 68 trạm ) và hoạt động tương đối đều. Với loại tài liệu này yếu tố độ mặn và hoá nước bụi lắng thường xuyên được quan tâm, phục vụ nghiên cứu tác động của môi trường tới sinh hoạt của cộng đồng.

      7-Tài liệu thuỷ văn

      Từ  năm 1902-1954 có 224 trạm, từ năm 1955 đến nay có 236 trạm trong đó có 128 trạm vùng không ảnh hưởng thuỷ triều và 108 trạm vùng ảnh hưởng thuỷ triều. Tài liệu trong thời gian từ 1955 đến nay các trạm đo liên tục vì vậy tần suất sử dụng trong thời kỳ này rất lớn. Các yếu tố thuỷ văn thường xuyên được khai thác như: mực nước, lưu lượng nước, độ đục, lưu lượng chất lơ lửng thực đo, nhiệt độ nước và trích lũ v.v... 

      8-Tài liệu đo mưa

      Khối lượng tài liệu của các điểm đo mưa có 1800 điểm đo bình quân 10-15 năm số liệu/trên điểm đo. Loại tài liệu này có tần suất sử dụng là lớn nhất.

      Ngoài 8 chủng loại nêu trên trong kho còn lưu giữ một số loại tài liệu khác như: Tài liệu nguyên san, nguyệt san, tài liệu điều tra lũ - kiệt, hồ sơ trạm thuỷ văn, tài liệu khảo sát khí tượng, môi trường biển bằng tàu nghiên cứu biển của Trung tâm Hải văn (loại này mới có sau năm 2000) và các loại khác. 

      B. Thông tin thêm về kho

      Từ  khi thực hiện dự án tồn đọng tại kho Trung tâm tư liệu (2004-2005) toàn bộ giá để tài liệu được trang bị đồng bộ, đồng nhất, chất liệu làm giá là hợp kim chống gỉ. giá được thiết kế đơn, cao 4 tầng chiều cao mỗi tầng không quá 60cm, rộng 01 mét được kết nối và tựa vào nhau tạo thành giá đúp, chiều nối dài phụ thuộc vào phòng bố trí giá để tài liệu theo đúng quy phạm lưu trữ.

      Tổng số giá mét giá được trang bị trong kho để đựng tài liệu là 2632m trong 29 phòng, diện tích mặt sàn là 2783m2.


Tìm kiếm Nội dung
Thông tin thời tiết
Hà Nội 26

Trung Tâm Tư Liệu Khí Tượng Thủy Văn

Đ/c: Ngõ 62, Đường Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Đ/t : 04.8356616   Fax : (084).04.8356616
Website: http://www.hymetdata.gov.vn/  
E-mail : hmdc@fpt.vn



OpenWeb Framework version 4.0 Xây dựng bởi INGA Co.,Ltd.