Câu 1: Bão, áp thấp nhiệt đới là gì ?
Hình 1. Cấu trúc đặc
trưng của bão
Bão và ATNĐ được gọi chung
là xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ): là một vùng gió xoáy, có đường kính tới hàng
trăm kilômét, hình thành trên vùng biển nhiệt đới. Ở bắc bán cầu, gió thổi xoáy
vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Áp suất khí quyển trong bão
thấp hơn rất nhiều so với xung quanh và thường thấp hơn 1000mb. Bão, ATNĐ có
thể xem như một chiếc bánh khổng lồ, khi cắt đôi chiếc bánh đó ta
thấy bên trong nó cũng có nhân bánh đó là mắt bão và thành mắt bão
(xem hình 1).
Như vậy có thể xem bão
là một trận gió xoáy từ các phía thổi vào vùng trung tâm bão, càng gần trung
tâm thì gió càng mạnh, có khi lên đến vài trăm cây số một giờ, nhưng chính giữa
lại là một vùng gió tương đối nhẹ hay lặng
gió gọi là mắt bão. Không khí chung quanh dồn vào giữa không phải theo
những đường thẳng mà theo hình xoắn ốc. Ở Bắc bán cầu, gió xoáy thổi ngược
chiều kim đồng hồ. Trong một trận bão, ở tầng gần mặt đất không khí bốn bề chạy
vào giữa, đến vùng giữa bão thì không khí thổi lên cao, lên đến các tầng cao
hơn nữa thì tỏa ra tứ phía. Bão bắt nguồn từ các vùng biển nhiệt đới, bão
chuyển động một khối không khí ẩm rất lớn. Không khí ẩm đó càng lên cao thì hơi
nước mà
nó chứa đọng lại thành mây và mưa càng nhiều, cho nên vùng bão không những có
gió mạnh mà lại có mây đặc phủ kín và mưa nhiều.
Câu 2:
Vì sao bão có tên và chúng được đặt tên như thế nào ?
Bão có nhiều cách gọi khác nhau tùy thuộc vào khu vực
phát sinh bão:
+ Bão hình
thành trên biển Đại Tây Dương: gọi là Hurricanes
+ Bão hình
thành trên biển Thái Bình Dương: gọi là Typhoon
+ Bão hình thành trên biển Ấn Độ Dương: gọi là Tropical Cyclones
Các
cơn bão có thể tồn tại trên biển trung bình từ 7 – 8 ngày hoặc thậm chí lâu
hơn. Trên cùng một khu vực, cùng một thời gian có thể có từ 2 đến 3 cơn bão tồn
tại, thậm chí có thể nhiều hơn. Vì vậy người ta phải nghĩ ra cách đặt tên cho
các cơn bão để tránh nhầm lẫn trong việc đưa ra các thông tin về từng cơn
bão.
Trong
thời gian xảy ra chiến tranh Thế giới thứ II, các nhà Khí tượng Lục quân và Hải
quân Mỹ đã dùng tên của phụ nữ để đặt tên cho các cơn bão.
Các
cơn bão ở Đông Bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959 – 1960
và đến năm 1978 sử dụng cả tên nữ giới và nam giới.
Ở
vùng Bắc Ấn Độ Dương, các cơn bão nhiệt đới không được đặt tên. Ở Tây Nam Ấn
Độ Dương bão bắt đầu được đặt tên từ 1960.
Ở
vùng Australia và nam Thái Bình Dương, bão bắt đầu được đặt tên (theo tên phụ
nữ) từ năm 1964 và sau đó 10 năm thì sử
dụng cả tên nam giới.
Câu 3: Trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương
(bao gồm cả biển Đông) tên bão được đặt như thế nào và nước nào có
quyền đặt tên cho các cơn bão ?
Các
cơn bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương (bao gồm cả Biển Đông của Việt
Nam) được đặt tên theo tên phụ nữ chính thức bắt đầu từ năm 1945, và đến năm
1979 thì bắt đầu sử dụng cả tên của nam giới.
Từ
ngày 010/1/2000
các cơn bão ở Tây bắc Thái Bình Dương được đặt tên theo danh sách các tên mới
và rất khác nhau. Các tên mới được bổ sung gồm các tên của khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương, được lấy từ 14 nước và vùng lãnh thổ là thành viên Uỷ ban bão của
Tổ chức Khí tượng Thế giới. Mỗi thành viên cung cấp 10 tên, tạo thành danh sách 140
tên bão.
Các cơn bão hình thành trên khu vực Tây Bắc Thái Bình
Dương được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO:
World Meteorological Organization) ủy quyền cho Trung tâm Báo bão nhiệt đới Tokyo thuộc Cơ quan
khí tượng Nhật bản đặt tên.
Danh sách các tên bão mới có hai
sự khác biệt so với trước đây là
Thứ nhất: Rất ít tên bão là tên riêng của người mà phần
lớn là tên các loài hoa, các động vật, các loài chim, các loài cây cỏ và thậm
chí là tên các món ăn.
Thứ hai: Danh sách tên bão không được sắp xếp theo thứ tự
các chữ cái mà sắp xếp theo thứ tự chữ cái của tên các nước đóng góp tên.
Một điều cần lưu ý ở đây
là sau một vài năm tổng kết, với các cơn bão gây ra thiệt hại nặng nề cho các
nước đóng góp tên thì tên các cơn bão đó sẽ được đưa ra khỏi danh sách tên bão
và được thay thế bằng một tên mới. Do vậy danh sách các tên bão trên là không
cố định và luôn có sự bổ sung.
Câu 4: Dựa vào đâu để
có thể phân loại bão, áp thấp nhiệt đới ?
Dựa vào tốc độ gió mạnh nhất
ở vùng gần trung tâm xoáy thuận nhiệt đới, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) quy
định phân loại xoáy thuận nhiệt đới như sau:
Bảng 1. Phân loại bão theo sức gió mạnh nhất và mức độ ảnh
hưởng
|
Cấp
bão
|
Gió cực đại
(km/h)
|
Cấp gió
(beaufort)
|
Mức độ ảnh hưởng
(do sức gió)
|
|
Áp thấp nhiệt đới
(Tropical Depression)
|
39 - 61
|
6 – 7
|
Cây cối rung chuyển, khó đi ngược gió.
Biển động
|
|
Bão
(Tropical Storm)
|
62 – 88
|
8 – 9
|
Bẻ gẫy cành cây lớn, tốc mái nhà, không
thể đi ngược gió. Biển động rất mạnh.
|
|
Bão mạnh
(Severe Tropical
Storm)
|
89 – 117
|
10 - 11
|
Làm đổ cây cối, nhà cửa, cột điện, gây
thiệt hại rất nặng. Biển động dữ dội làm đắm tàu thuyền
|
|
Bão rất mạnh
(Typhoon / Hurricane)
|
³ 118
|
³ 12
|
Sức
phá hại cực kỳ lớn. Sóng biển cực kỳ mạnh làm đắm tàu biển có trọng tải lớn
|
Tốc độ gió
mạnh nhất vùng gần trung tâm (tốc độ gió cực đại) được quy định khác
nhau ở mỗi nước. Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) quy định lấy tốc độ
gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 10 phút (sử dụng trong các
bản tin của Nhật và Hồng Kông), Cơ quan dự báo bão của Hải quân Mỹ lấy
tốc độ gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 1 phút. Việt Nam
tốc độ gió mạnh nhất được lấy trong 2 phút. Phòng Khí tượng Úc lấy tốc độ
gió giật mạnh nhất chứ không lấy gió cực đại duy trì liên tục. Chính sự khác
nhau này nên khi đánh giá cường độ bão là có sự khác nhau. Qua nhiều
hội nghị các chuyên gia WMO đã đề xuất xác định các hệ số chuyển đổi vào 2004.
Các tác giả Mỹ cho biết rằng do sự khác nhau về thời gian lấy trung bình mà
cường độ báo bão của các nước khác thấp hơn của Mỹ khoảng 12%. Quy chế báo bão,
ATNĐ, lũ của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" (tức gió cực
đại) và "có thể có gió giật", mà không dùng thuật ngữ "duy trì
liên tục" (sustained), nên phải hiểu đó là gió mạnh nhất khi quan trắc
theo quy phạm quan trắc bề mặt
Có thể hiểu
thêm cách phân cấp cường độ bão của Mỹ ở bảng dưới
|
Phân loại
|
Cường độ
|
Gió mạnh nhất trung bình trong 1 phút
|
|
Knots
|
Km/h
|
|
Tropical Depression
|
TD
|
< 34
|
< 63
|
|
Tropical Storm
|
TS
|
34 -63
|
63 -118
|
|
Typhoon
|
Cat 1
|
64 - 82
|
119 – 153
|
|
Typhoon
|
Cat 2
|
83 - 95
|
154 – 177
|
|
Typhoon
|
Cat 3
|
96 - 113
|
178 – 210
|
|
Typhoon
|
Cat 4
|
114 - 135
|
211 – 250
|
|
Super Typhoon
|
Cat 5
|
> 135
|
> 250
|
Câu 5: Trong các bản tin báo bão thường thấy nói
là tốc độ gió mạnh nhất vùng gần tâm, vậy tại sao gió trong bão
lại mạnh nhất vùng gần tâm ?
Nếu đi từ ngoài vào trong
một cơn bão thì đầu tiên ta sẽ bắt gặp các dải
mây mưa ở rìa ngoài của bão (đi vào vùng này tốc độ gió tăng lên đột ngột)
và có thể trải cách xa tâm bão hàng trăm kilômét. Những dải mây này chuyển
động xoáy trôn ốc theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, có độ rộng từ khoảng vài
kilômét đến vài chục kilômét. Các dải mây này được tạo thành từ nhiều khối mây
đối lưu phát triển mạnh, ở nhiều giai đoạn khác nhau và liên kết với nhau chặt
chẽ, có sắp xếp, có tổ chức. Xen kẽ giữa các dải mây, mưa kèm theo gió mạnh gây
ra mưa to, gió lớn là những vùng gió không mạnh và mưa không nhiều tạo thành
từng đợt, từng đợt mưa. Đây là đặc trưng thường thấy trong vùng ảnh hưởng của
bão, tạo cơ sở cho việc phòng tránh trên thực tế.
Tiếp
tục đi sâu vào bên trong sẽ bắt gặp một tường mây dày đặc gồm các đám mây dông phát
triển lên rất cao. Đi vào khu vực này tốc độ gió tăng lên đột ngột và đạt giá
trị mạnh nhất trong bão. Mắt bão có thể to ra, thu hẹp lại hay nhân đôi lên và
có thể tạo nên nhiều vòng thành mắt bão. Sự biến đổi của mắt bão và thành mắt
bão gây nên các biến đổi về tốc độ gió và cường độ bão
Trong cùng là mắt
bão, là một vùng tương đối lặng gió, quang mây. Do lực ly tâm
làm không khí trong vùng trung tâm bão giãn ra nên mật độ không khí ở đây rất
thấp và khí áp giảm xuống thấp nhất. Đường kính trung bình của mắt bão khoảng
30 - 60 km. Khi ở trong khu vực mắt bão, người ta thường rất ngạc nhiên khi
thấy gió và mưa đang xảy ra rất dữ dội lại đột nhiên ngừng hẳn, trời quang mây
tạnh. Nhưng ngay khi mắt bão đi qua gió mạnh và mưa xuất hiện lại ngay, cũng
đột ngột như trước khi mắt bão đi qua, nhưng với hướng ngược lại. Trong thực
tế phải hết sức chú ý đến hiện tượng này trong phòng, tránh bão vì dễ tạo tâm
lý chủ quan khi cho rằng bão đã đi qua và không cần phòng, tránh.
Câu 6: Có phải tốc độ di
chuyển của bão chính là tốc độ gió mà bão sinh ra không ? Dựa vào
tốc độ di chuyển của bão có thể nhận định được hướng di chuyển của
bão không ?
Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Không nên nhầm lẫn tốc độ di chuyển của bão với tốc độ gió mà bão sinh
ra. Trong một cơn bão tốc độ gió mạnh nhất vùng gần tâm bão có thể
đạt tới 200 km/h đối với những cơn bão mạnh và không nhỏ hơn 65 km/h
đối với nhưng cơn bão yếu.
Tốc độ di chuyển của bão là tốc độ di
chuyển của cả khối không khí khổng lồ xung quanh tâm bão. Trên biển
Đông, bão thường di chuyển với tốc độ trung bình khoảng 10 – 25 km/h
và mỗi ngày có thể vượt qua một quãng đường khoảng 500km. Còn khi
bão di chuyển nhanh tốc độ di chuyển có thể đạt tới 30 – 35 km/h.
Một cách tương đối có thể hiểu khi bão di
chuyển nhanh với tốc độ ổn định thì quỹ đạo của bão hầu như không
thay đổi. Khi bão di chuyển chậm lạ và có lúc gần như đứng yên thì
có thể sẽ xảy ra khả năng bão sẽ đổi hướng di chuyển và sau khi đổi
hướng bão lại đi nhanh lên.
Tốc độ và hướng di chuyển của bão phụ thuộc vào sự tương tác rất phức tạp
giữa hoàn lưu gió xoáy nội tại của cơn bão và hoàn lưu khí quyển xung quanh. Có
thể coi khối không khí xung quanh cơn bão như là một “dòng sông” không khí luôn
chuyển động và biến đổi. Các đặc điểm khác của “dòng sông” này như các hệ thống
áp cao và áp thấp có thể làm thay đổi một cách đáng kể tốc độ và hướng đi của
bão, đặc biệt là khi có không khí lạnh tràn xuống miền Bắc nước ta. Ngược lại,
cơn bão cũng có thể làm biến đổi môi trường không khí xung quanh nó. Chính vì
thế, sự di chuyển của bão chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố.
Câu 7: Tại sao bão lại
chuyển động xoay tròn theo một hướng ngược chiều kim đồng hồ ?
Bão chuyển động xoay tròn
theo một hướng là do sự cân bằng của các lực tác động trong khí quyển. Trên
thực tế có 3 lực chính tác động lên một cơn bão: Lực gradien khí áp, lực
coriolis và lực ly tâm.
- Lực gradien khí áp làm cho
không khí di chuyển từ nơi có khí áp cao đến nơi có khí áp thấp hơn (giống như
nước chảy từ chỗ đất cao đến chỗ đất thấp, hay giống như viên bi lăn trên mặt
bàn bị nghiêng). Trong cơn bão khí áp thấp nhất ở tâm nên không khí chuyển động
về phía đó.
- Lực coriolis sinh ra do sự tự
quay quanh trục của trái đất. Lực này làm cho gió lệch về phía phải (ở bắc bán
cầu). Vì vậy khi không khí chuyển động về phía tâm bão, nó cũng bắt đầu di chuyển
hướng về phía bên phải. Do đó không khí chuyển động xung quanh tâm bão có chiều
ngược chiều kim đồng hồ.
- Lực ly tâm đẩy không khí chuyển
động văng ra phía ngoài khi bão đang quay.
Như vậy trong khi lực gradien
khí áp đẩy gió về phía khí áp thấp (trung tâm) thì lực ly tâm lại đẩy nó ra
phía ngoài, chính vì vậy không khí trông giống như đang chuyển dộng xoay tròn.
Câu 8: Các điều kiện cần thiết cho quá trình hình
thành và phát triển của một cơn bão?
Từ đặc điểm trong cấu trúc của bão và từ thực tế quan trắc về bão, có thể
rút ra các điều kiện cần thiết cho sự hình thành bão như sau:
a. Không khí thăng lên trong bão phải nóng hơn không khí ở môi trường xung
quanh và trong dòng không khí thăng lên phải rất giàu hơi ẩm. Vì thế trên thực
tế bão chỉ có thể hình thành và phát triển trên các đại dương và vùng biển
thoáng. Vào
năm 1948, nhà khí tượng Erik Palmen đã tìm ra rằng, bão và áp thấp nhiệt đới
chỉ có thể hình thành và phát triển khi nhiệt độ nước biển đạt ít nhất 26 - 27oC.
Giá trị nhiệt độ 26 - 27oC có liên quan đến quá trình đối lưu của
khí quyển. Điều này giải thích tại sao mùa bão chủ yếu thiên về thời kỳ cuối
mùa nóng khi nhiệt độ mặt nước biển là cao nhất.
b. Chuyển động xoáy vào
tâm là phần cơ bản của hoàn lưu bão. Sở dĩ bão không thể hình thành và phát
triển ở các vùng gần xích đạo (dưới 50N) vì ở đó lực Coriolis quá
yếu, không đủ để duy trì và phát triển xoáy.
c. Bão thường hình thành và phát triển trên nền dải
hội tụ nhiệt đới (ITCZ), trong các nhiễu động của sóng đông… Những kết quả
nghiên cứu của Gray (1968) cho thấy ở khu vực tây bắc Thái Bình dương có tới 85
– 90% số cơn bão hình thành trên ITCZ .
Câu 9: Tại
sao bão, áp thấp nhiệt đới không thể hình thành và phát triển trên
khu vực gần xích đạo mặc dù khu vực này đáp ứng đủ điều kiện
nhiệt ẩm ?
Như chúng ta đều biết
bão, áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển một
cách tương đối nhờ vào 2 điều kiện cơ bản là điều kiện nhiệt lực (nhiệt
độ và độ ẩm đủ lớn) và điều kiện động lực (chuyển động xoáy vào
tâm của khối không khí xung quanh tâm bão).
Khác với các nhiễu
động khác ở vùng nhiệt đới, chuyển động xoáy là thành phần cơ bản
của hoàn lưu khối không khí quanh tâm bão. Lực cơ bản gây ra chuyển
động xoáy vào tâm trong bão là lực Coriolis lại quá yếu khi đến gần khu
vực từ 50S đến 50N và giảm xuống bằng 0 khi ở
ngay xích đạo Vì thế mặc dù trên khu vực gần xích
đạo đảm bảo có các điều kiện nhiệt, ẩm (vùng biển nóng) cho sự hình thành bão,
áp thấp nhiệt đới nhưng lại không đảm bảo điều kiện động lực tạo chuyển động
xoáy nên bão, áp thấp nhiệt đới không thể hình thành và phát triển
trên khu vực gần xích đạo.
Giả sử có một vùng áp thấp hình thành ở khu vực gần xích đạo,
nhưng do lực Coriolis quá yếu, không thể cân bằng được với lực gradient
khí áp của vùng áp thấp để tạo ra chuyển động xoáy thuận làm cho
vùng áp thấp duy trì và phát triển nên vùng áp thấp này bị không
khí xung quanh ùa thẳng vào trung tâm dẫn đến vùng áp thấp suy yếu nhanh
chóng và biến mất.
Câu 10: Có phải kích thước của bão càng lớn thì
cường độ của bão càng mạnh?
Hình dưới minh họa cho
3 cơn bão có kích thước khác nhau. Ba cơn bão A, B, C trên hình tuy
không xảy ra đồng thời cùng một lúc nhưng được tái tại trên ảnh bằng
kỹ thuật ghép hình để thấy được kích thước của các cơn bão.
Từ hình minh họa trên cho
thấy trong thực tế các cơn bão có kích thước rất khác nhau, có thể thấy bán
kính đĩa mây của bão A nhỏ bằng một nửa bán kính đĩa mây của bão C. Trung bình
đường kính của một cơn bão vào khoảng 300 – 500 km, nhưng có thể có những biến
đổi đáng kể.

Hình 2. Ví dụ minh họa kích thước đặc trưng của
bão.
Một điều có thể khẳng định chắc chắn rằng kích
thước của bão không tỷ lệ thuận với cường độ của bão và không thể hiện
cho cường độ bão, không phải cơn bão nào có kích thước lớn đều là những cơn bão
có cường độ mạnh và gây ra mức độ tàn phá lớn. Cơn bão số 6 (XANGSANE) tháng
10/2006 đổ bộ vào Đà Nẵng gây thiệt hại nặng nề cho thành phố Đà Nẵng
có phạm vi bán kính gió mạnh rất nhỏ. Theo số liệu ghi lại được
bán kính trên cấp 10 của cơn bão chỉ khoảng 80km nhưng đã gây ra gió
mạnh cấp 13 ở thành phố Đà Nẵng. Cơn bão ANDREW năm 1992 là cơn bão rất
mạnh, có sức tàn phá khủng khiếp nhất trong thế kỷ vừa qua chỉ có kích thước tương
đối nhỏ.
Câu 11:
Trong thực tế khi nghe thông tin về một cơn bão, nhiều người cho rằng
bão chỉ là một điểm và chỉ chú ý đến vị trí của cơn bão. Điều
này có đúng không ?
Trong thực tế, khi nghe thông tin về một cơn
bão, nhiều người cho rằng bão chỉ là một điểm và chỉ chú ý tới vị trí tâm bão
và đường đi của tâm bão mà quên mất rằng gió mạnh và mưa lớn thường bao phủ một
vùng rộng lớn xung quanh tâm bão. Đây là một quan điểm rất sai lầm, nhiều
cơn bão khi tâm còn nằm ngoài biển nhưng vùng gió mạnh và mưa lớn do bão gây ra
đã vào sâu trong đất liền (Cơn bão số 2 năm 2004 có tên quốc tế là CHANTHU
lúc 9h30 sáng ngày 12/6/2004. Tâm bão vẫn nằm ở ngoài biển nhưng vùng có gió
mạnh cấp bão đã vào sâu trong đất liền). Gió bão mạnh (trên cấp 10) có thể trải
rộng trong một vùng khoảng 50 km xung quanh tâm bão đối với một cơn bão nhỏ, và
có thể rộng tới hơn 150 km đối với một cơn bão lớn. Khu vực có gió mạnh trên
cấp 7 còn trải rộng hơn nữa, có thể cách tâm bão tới 500 km trong một cơn bão
lớn.

Hình 3. Ví dụ minh họa phạm vi ảnh hưởng của bão
Khi bão còn đang trong
giai đoạn trưởng thành, ở trên biển thoáng và đứng yên hay ít di
chuyển, tức là ảnh hưởng của môi trường xung quanh đối với cơn bão
là cân bằng nên vùng gió mạnh xung quanh tâm bão có thể xem là tường
đối tròn. Khi cơn bão di chuyển, chứng tỏ môi trường xung quanh đã có
tác động không cân bằng tới nó, hoặc khi cơn bão bị ảnh hưởng của
địa hình hay đang suy yếu, đặc biệt khi có sự kết hợp với một hệ
thống thời tiết khác (ví dụ như không khí lạnh)… thì nói chung vùng
gió mạnh xung quanh tâm bão sẽ không còn tròn nữa và trở nên phức
tạp (xem hình minh họa). Khi bão kết hợp với một hệ thống thời tiết
khác thì khi còn cách rất xa tâm bão gió đã rất mạnh, tiếp đến gió
lại yếu dần đi một cách nhanh chóng. Nhiều người cho rằng bão đã qua
và chủ quan trong phòng chống. Nhưng thực sự sau đó gió lại mạnh trở
lại, đây mới chính là lúc bão ảnh hưởng. Trên thực tế đã nảy sinh
trường hợp nhiều người dân cho rằng bão quay trở lại. Cần phải hiểu
đúng vấn đề này để tránh chủ quan trong phòng chống bão.
Câu 12: Vậy trong vùng gió mạnh xung quanh tâm bão, khu vực nào
có gió mạnh hơn cả ?
Khối
không khí xung quanh tâm bão có sự phân phối gió không đều, có chỗ gió rất
mạnh, có chỗ gió không mạnh. Người ta thường phân biệt hai khu vực, bên
phải và bên trái đường đi của cơn bão. Nửa
bên phải gió to hơn cả cho nên người đi biển gọi là tử điạ. Trong khu vực
này góc đàng sau thường có gió mạnh hơn góc đàng trước, tàu biển vào đó thì sẽ
bị lôi cuốn vào trung tâm không ra được
Dọc theo quỹ đạo đường
đi của bão thì vùng phía bắc của bão là vùng nguy hiểm nhất với gió mạnh kèm
theo mưa to, các cơn dông, lốc cục bộ và hiện tượng nước biển dâng cao dưới tác
động của gió đẩy mạnh vào bờ.
Trên hình 4, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra vùng gió
mạnh phía bắc của bão là do tác động tổng cộng của gió xoáy trong bão và gió
của dòng môi trường xung quanh. Một cách cụ thể có thể thấy, tại điểm A gió bão
gần như cùng hướng với gió của môi trường, tác động cộng hưởng của chúng khiến
cho gió ở đây mạnh lên. Ví dụ: nếu dòng môi trường có tốc độ là 15 km/giờ, gió
bão trung bình là 100 km/giờ, tốc độ gió tại điểm A sẽ có độ lớn là 100 + 15 =
115 km/giờ. Ngược lại, tại điểm B, gió bão ngược chiều với gió của môi trường,
kết quả là gió ở đây chỉ có độ lớn là 100 – 15 = 85 km/giờ. Khi cơn bão di
chuyển càng nhanh thì hiệu ứng này càng rõ rệt.

Hình 4. Vùng gió mạnh phía bắc của bão
Nguyên nhân thứ hai là ở phía bắc cơn bão thì gió thổi
thẳng từ biển vào, không bị núi đồi, cây cối, nhà cửa cản bớt nên mạnh hơn
nhiều so với gió ở phía nam cơn bão thổi từ đất liền ra, đã bị suy giảm do địa
hình. Ngoài ra, nếu bão đổ bộ, hay ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta cùng đồng
thời với lúc có gió mùa đông bắc tràn xuống thì gió phía bắc của bão lại càng
mạnh hơn và mưa càng lớn hơn do sự kết hợp của hai hệ thống thời tiết nguy hiểm
này.
Câu 13: Tại sao khi đi vào đất liền
thì bão, áp thấp nhiệt đới thường bị suy yếu và tan đi, trong khi đó vùng áp
thấp thì lại không ?
Nguyên nhân chính là do sự
khác nhau về điều kiện hình thành và phát triển giữa bão, áp thấp nhiệt đới và
vùng áp thấp thông thường. Điểm giống nhau là cả hai đều là những vùng có khí
áp ở vùng trung tâm là thấp nhất và có gió thổi xoáy vào trung tâm.
Nhưng sự khác biệt cơ bản
là: nguồn gốc hình thành và phát triển bão, áp thấp nhiệt đới là trên
các vùng biển nóng (từ 260C - 270C), một trong những
nguồn năng lượng chính nuôi sống chúng là điều kiện nhiệt và ẩm (mà chỉ trên
biển mới có), khi vào đất liền, nguồn năng lượng đó không còn được duy trì,
vì thế nó suy yếu đi nhanh chóng và dần dần tan đi.
Ngược lại, các vùng áp thấp
thông thường có thể hình thành ngay trên đất liền hoặc trên biển, điều kiện tồn
tại và phát triển của chúng không phụ thuộc vào nguồn năng lượng mà đại dương
cung cấp, nó chỉ phụ thuộc chính vào hoàn lưu khí quyển ở các mực trên cao,
chính vì thế dù chúng ở trên biển hay khi đi vào đất liền thì cường độ của
chúng không hề suy giảm.
Câu 14: Có phải khi đi
vào đất liền do ma sát trên mặt đất làm xoáy thuận nhiệt đới tan đi hay
không ?
Không phải như vậy. Trong
suốt quá trình đổ bộ, ma sát mặt đất tăng lên, có điều gì đó mâu thuẫn với sự
yếu đi của gió mạnh nhất trong bão và sự mạnh lên của gió giật mặt đất. Gió mạnh
nhất (tính trung bình trong 2 phút ở Việt Nam) bị giảm do ảnh hưởng của sự
gồ ghề lớn trên bề mặt đất (như các bụi rậm, cây cối, nhà cửa). Gió giật mạnh
lên do sự nhiễu động tăng/sự xáo trộn lên
làm cho gió thổi mạnh xuống bề mặt trong một thời gian rất ngắn (chỉ vài giây).
Tuy nhiên chỉ sau vài giờ,
bão, áp thấp nhiệt đới trên mặt đất sẽ bắt đầu suy yếu nhanh – không phải
do ma sát – mà do nó thiếu nguồn ẩm và nhiệt nuôi dưỡng mà đại dương cung cấp.
Sự thiếu hụt ẩm và nhiệt này làm mất khả năng gây ra dông ở gần tâm bão. Không có
đối lưu này, cơn bão sẽ đầy lên nhanh (yếu đi nhanh).
Trong một mô phỏng số trị
trước đây đã chỉ ra rằng một cơn bão mạnh khi đổ bộ vào một khu vực rất ẩm đến
mức quá trình bốc hơi bề mặt xảy ra liên tục thì cơn bão đó có thể sẽ mạnh lên.
Tuy nhiên một nghiên cứu gần đây về các điều kiện bề mặt cho thấy rằng mặc dù ở
trên một khu vực rất ẩm ướt, cơn bão mạnh vẫn có thể bị suy yếu do thiếu nguồn
nhiệt. Thực tế, đã xảy ra trường hợp cơn bão Andrew khi đi qua các khu vực rất
ẩm ướt ở phía nam của Florida,
cơn bão mạnh này đã yếu đi một cách đột ngột: Gió mạnh nhất gần tâm giảm khoảng
33%, khí áp thấp nhất trung tâm tăng lên 19mb.
Câu 15: Trong các bản tin dự báo bão tôi thường nghe thấy cụm
từ “tốc độ di chuyển của bão”. Vậy có thể hiểu tốc độ ở đây là
như thế nào và bằng cách nào để có thể xác định được tốc độ di
chuyển của bão ?
Tốc
độ di chuyển của bão được xác định là tốc độ chuyển động trung
bình của cơn bão trong thời hạn 12 hoặc 24 giờ tới. Trong khoảng thời
gian đó có những lúc bão có thể chuyển động nhanh hơn hay chậm hơn
giá trị trung bình. Trong trường hợp tốc độ chuyển động trung bình
của bão nhỏ hơn 5 km/h và có hướng không xác định khi đó sẽ coi bão
hầu như ít di chuyển. Trên thực tế các bản tin dự báo bão của Việt
nam trung bình được cập nhật 3h một lần, những thay đổi trong tốc độ
di chuyển của bão cũng sẽ được cập nhật liên tục để đảm bảo cho độ
chính xác của các bản tin dự báo được chính xác hơn.
Có nhiều
công cụ để xác định tốc độ di chuyển của một cơn bão. Một trong những công cụ
chính cho vấn đề này là ảnh mây vệ tinh có độ phân giải cao. Sử dụng ảnh
mây vệ tinh các chuyên gia dự báo bão có thể vẽ ra được đường đi (quĩ đạo) của
cơn bão, từ đó theo dõi và chấm được vị trí của tâm bão sau mỗi thời đoạn nhất
định. Từ khoảng cách giữa các vị trí tâm bão và khoảng thời gian di chuyển (12h
hoặc 24h) người ta xác định được tốc độ di chuyển của cơn bão (khoảng cách/thời
gian).
Câu 16: Hướng di chuyển của bão được dự báo
theo bao nhiêu hướng. Trong thực tế khi nghe thông tin về một cơn bão
thấy dự báo theo một hướng nhưng thực tế lại đi theo một hướng khác,
điều này giải thích thế nào ?
Hướng di chuyển của bão được dự báo theo 16 hướng
chính như hình minh họa bên dưới
B – Bắc BĐB – Bắc Đông Bắc ĐN – Đông Nam TTN – Tây Tây Nam
N – Nam
ĐB – Đông Bắc NĐN – Nam Đông Nam
TTB – Tây Tây Bắc
Đ – Đông ĐĐB – Đông Đông Bắc NTN – Nam
Tây Nam TB – Tây Bắc
T – Tây ĐĐN – Đông Đông Nam SW – Tây Nam BTB – Bắc Tây Bắc
Ngoài
ra, trong các bản tin dự báo bão cũng có những trường hợp dự báo hướng di
chuyển là sự kết hợp giữa hai góc hướng với nhau, ví dụ như “giữa Tây
Tây Bắc và Tây Bắc", khi đó hướng di chuyển sẽ được dự báo theo
hướng mũi tên xanh, đứt nét.

Hình 5. Mô phỏng hướng di chuyển của
bão
Như chúng ta đều biết bão là một cột không
khí khổng lồ chuyển động xoáy vào tâm theo chiều ngược chiều kim đồng
hồ (ở Bắc bán cầu), sự di chuyển của bão là sự vận động của cả
cột không khí đó. Do là chuyển động xoáy tịnh tiến về phía trước của
bão nên trong thực tế đường đi của bão là rất dích dắc. Dự báo
hướng di chuyển của bão cũng giống như dự báo tốc độ di chuyển được
xác định là hướng di chuyển trung bình (hướng chủ đạo) của cơn bão
trong thời hạn 12h hoặc 24h. Trong khoảng thời gian đó cũng có những lúc bão
có thể di chuyển lệch ra khỏi hướng di chuyển trung bình. Tuy nhiên độ
lệch này không được quá lớn. Trong trường hợp tốc độ chuyển động
trung bình của bão chậm và có hướng không xác định khi đó sẽ coi
bão hầu như ít di chuyển.
Câu 17: Trong các bản tin dự báo bão tôi
thường nghe thấy cụm từ “bão ảnh hưởng" và “bão
đổ bộ". Vậy hai cụm từ này
có phải là một hay không ?
Trong các bản tin dự báo bão có nhắc đến các khu vực chịu ảnh hưởng của
bão, khu vực đổ bộ của bão (khu vực vùng trung tâm bão đi qua), tuy
nhiên chúng ta không nên nhầm lẫn giữa hai khái niệm bão ảnh hưởng và bão đổ
bộ.
Bão đổ bộ được xem như vùng trung tâm bão đã đi vào đất liền trên
một khu vực nào đó. Một khu vực nào đó được xem là bị ảnh hưởng của bão,
người ta căn cứ vào tốc độ gió mạnh và hiện tượng thời tiết nguy hiểm ở khu vực
đó khi bão đổ bộ hoặc ngay cả khi bão mới đến gần khu vực đó. Do vậy có thể
hiểu về cơ bản bão đổ bộ thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng còn bão ảnh
hưởng thì chưa chắc đã đổ bộ.
Bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam được chia thành 2 loại: ảnh hưởng trực
tiếp và ảnh hưởng gián tiếp:
- Ảnh hưởng trực tiếp: Bao gồm tất cả các cơn bão và
ATNĐ có tâm đi vào đất liền hoặc không đi vào đất liền nước ta nhưng trực tiếp
gây ra gió mạnh từ cấp 6 trở lên.
- Ảnh hưởng gián tiếp: Bao gồm tất cả các cơn bão và
ATNĐ khi tới gần bờ biển nước ta đã suy yếu nhiều nên khi tâm đi vào đất liền
hoặc chuyển hướng đi hướng khác, hoặc tan rã ngay tại chỗ và chỉ gây ra gió yếu
(cấp 5) và gây mưa to đến rất to trên diện rộng.
Câu
18: Sai số trung bình trong dự báo
vị trí tâm bão hiện nay như thế nào ?
Theo số liệu thống
kê mới nhất đã công bố trong “Báo cáo tại hội thảo quốc tế lần thứ VI
về xoáy thuận nhiệt đới” tháng 12/2006 tổ chức tại San Jose, Costa
Rica của Ủy ban Bão vùng Tây bắc Thái Bình Dương thuộc WMO thì sai số dự báo
trung bình trong 5 năm (2001-2005) của một số Trung tâm dự báo bão lớn trên
thế giới như sau:
|
Thời
hạn DB
Tên nước
|
Dự báo 24h
|
Dự báo 48h
|
Dự báo 72h
|
|
Mỹ
|
128 km
|
220 km
|
356 km
|
|
Nhật
|
128 km
|
232 km
|
350 km
|
|
Trung Quốc
|
133 km
|
228 km
|
362 km
|
|
Hồng Kông
|
131 km
|
232 km
|
|